Tâm trạng Lãng Cửu Xuyên quả thực có chút lay động, nhưng bị Tương Trì đột ngột chen ngang một câu, nàng lại bình tâm trở lại.
Có lẽ người già cũng có lòng yêu ai yêu cả đường đi lối về, nhưng chút thương yêu này, âu cũng là niềm an ủi duy nhất dành cho chính chủ mà thôi.
Cũng coi như không uổng một kiếp làm người.
“Tổ mẫu vẫn còn đó, người cứ giữ lấy đi.” Lãng Cửu Xuyên cất văn tự khế ước và ngân phiếu vào lại, trở tay đưa trả cho Vương ma ma.
Vương ma ma lắc đầu: “Đã là lão phu nhân cho Cửu cô nương thì người cứ giữ lấy, chẳng cần lo bị ai hay biết. Chuyện này vốn chẳng mấy ai hay, mà dù có biết đi chăng nữa, lão phu nhân lén cho con cháu mình thương chút của riêng thì ai dám hé răng nửa lời? Đó là tiền riêng của lão phu nhân, ai dám bảo thiên vị? Lòng người vốn dĩ đã lệch, mười ngón tay còn có ngón ngắn ngón dài cơ mà.”
Bà quay đầu nhìn lão thái thái đã bắt đầu gà gật, bèn khẽ thở dài: “Lão phu nhân ấy à, người vướng bận nhất trong lòng chính là hai cha con người.”
Lãng Cửu Xuyên nắm chặt chiếc túi gấm, hỏi: “Hình như con chưa từng thấy bức họa của nhị… của phụ thân.”
“Bệnh của lão phu nhân chính do tưởng nhớ quá độ mà ra, bởi vậy Thọ Khang đường chẳng dám giữ lại bức họa nào của nhị lão gia, sợ nhìn tranh lại nhớ người. Bên phía Nhị phu nhân chắc là có.” Vương ma ma thoáng ngập ngừng, nhớ tới mối bất hòa giữa nàng và Thôi thị, bèn nói thêm: “Ngoài chỗ người ra, thì bên từ đường cũng có một bức.”
Lãng Cửu Xuyên gật đầu, nhét túi gấm vào thắt lưng. Nàng nhìn lại lão phu nhân, bà đã nghiêng đầu ngủ say. Đăm đăm nhìn những nếp nhăn trên gương mặt bà hồi lâu, nàng mới nói với Vương ma ma: “Làm phiền người phí tâm rồi.”
Vương ma ma cười nói: “Sau này có người ở trong phủ, lão phu nhân nhất định sẽ vui lắm.”
Lãng Cửu Xuyên khựng lại, một thoáng sau mới khẽ “ừm” một tiếng.
Khi bước ra khỏi Thọ Khang đường, Tương Trì cất giọng: “Phen này thì ngươi có muốn đi cũng chẳng đi nổi nữa rồi chứ gì?”
Lãng Cửu Xuyên không đáp mà hỏi ngược lại: “Đồ ta bảo ngươi tìm, đã mang về hết chưa?”
“Đương nhiên rồi, đường đường là Bạch Hổ Vương ta đích thân ra tay, lẽ nào lại về tay không? Đều để trong phòng cả rồi.” Tương Trì lơ lửng bay trước mặt nàng, giọng hung dữ: “Còn ngươi đấy, hôm qua lại giở trò quỷ quái gì mà thân thể tàn tạ đến mức ấy? Ta nói cho ngươi hay, ngươi có muốn chết cũng phải báo trước với ta một tiếng để lão tử còn kịp chạy trốn, đừng có liên lụy đến ta.”
“Ngươi mà chịu nhả thêm cho ta chút nguyện lực, ta đâu đến mức bị phản phệ thảm hại như vậy.” Lãng Cửu Xuyên cười lạnh.
Tương Trì tức đến bật cười: “Ta thấy bản lĩnh khác của ngươi thì chẳng tới đâu, chứ cái thói vừa ăn cướp vừa la làng này thì thiên hạ vô địch rồi đấy. Ngươi tự tìm đường chết lại còn đổ vấy lên đầu ta à?”
Lãng Cửu Xuyên mặt không đổi sắc: “Nhất vinh câu vinh nhất tổn câu tổn. Làm hổ thì độ lượng lên một chút, cho ta ké thêm tí ti thì có chết ai?”
Câu này nghe quen tai quá, hồi trước lúc nàng đốp chát với ta đã nói thế nào nhỉ?
Tương Trì đang định vặn lại bằng chính lời lẽ ấy, thì Lãng Cửu Xuyên đã chẳng cho nó cơ hội phản kích, nàng hỏi: “Ngươi bị làm sao thế, sao lúc về người lại dính chút uế khí xui xẻo vậy?”
Hả?
Tương Trì theo phản xạ nhìn quanh người mình, có uế khí thật sao?
Nhưng bị nàng chen ngang như vậy, nó lại sực nhớ ra một chuyện.
“Hôm nay ta ở Từ Ân tự trộm tro… khụ, nhặt tro hương, tình cờ nghe được một chuyện. Ta thấy ngươi có thể ra tay giải quyết, kiếm chút công đức đắp vào tu bổ lại thân xác.”
“Ồ?”
Tương Trì đậu lên vai nàng, nói: “Đại Lý Tự khanh Thẩm Thanh Hà ở Tứ Tỉnh Phường đất Ô Kinh kia kìa, nghe đồn tiểu công tử Thẩm Bằng nhà ông ta dạo gần đây dường như bị trúng tà, nay đang lánh nạn tĩnh dưỡng ở Từ Ân tự.”
Lãng Cửu Xuyên nghe vậy liền nói: “Từ Ân tự cửa Phật mở rộng, phổ độ chúng sinh, một chuyện trúng tà cỏn con lẽ nào lại không giải quyết nổi?”
“Đúng là không giải quyết nổi thật đấy. Dù đang ở trong Từ Ân tự, tinh khí của hắn vẫn không ngừng hao tổn. Ta nhìn thấy cả người hắn gầy rộc như que củi, tinh khí sắp bị hút cạn đến nơi rồi. Ta nghe ngóng được rằng Thẩm gia đang cậy nhờ quan hệ tìm người của tam đại huyền tộc ra tay trừ tà đấy.”
Lãng Cửu Xuyên khẽ động tâm: “Tam đại huyền tộc?”
“Ngươi không biết à? Chính là ba đại gia tộc có truyền thừa đạo căn ấy, gồm các họ Cung, Vinh, Phong.” Tương Trì đem những điều mình nghe ngóng được suốt một năm qua bên cây bạch quả già kể ra: “Ngươi tưởng hai môn Phật, Đạo tồn tại ở chốn hồng trần này thì ai ai cũng có thể trảm yêu trừ ma hàng phục quỷ quái chắc? Nếu linh khí nơi này thực sự dồi dào đến thế, thì lão tử đâu đến mức độ kiếp thất bại, thần thú hóa không thành mà suýt chút nữa linh thức tiêu tan.”
Đại Đan quốc quả thực có linh khí, nhưng tuyệt nhiên chẳng phải cảnh giới linh khí ngập tràn như tiên giới. Nhất là nơi trần tục, linh khí lại càng thêm cằn cỗi bạc bẽo. Người xuất gia bước vào cửa Phật hay cửa Đạo, muốn tu luyện đạt tới cảnh giới thực sự gian nan vô cùng, một phần do linh khí thiếu thốn, phần khác lại nằm ở ngộ tính.
Tam đại huyền tộc sở dĩ được xưng là huyền tộc, là bởi tổ tiên trong huyết mạch của họ từng xuất hiện chân nhân Đạo gia, trời sinh sẵn có đạo căn. Một khi kế thừa được đạo căn từ tổ tiên, ngộ tính sẽ cực kỳ cao cường, lúc ngộ đạo hay lĩnh hội Phật lý sẽ tiến cảnh thần tốc, quán triệt thông suốt hơn hẳn phương sĩ bình thường.
Cũng chính nhờ đời đời truyền thừa, những gia tộc này nắm giữ nguồn tài nguyên Phật Đạo thâm sâu hơn nhiều, như những bản kinh Phật, thư tịch Đạo gia cô bản tuyệt mật không truyền ra ngoài, hay tâm pháp, phương thuốc luyện đan cùng vô số pháp khí trân quý, đều là chí bảo vạn vàng khó cầu đối với người ngoài.
Nếu bảo đám thế gia tam công cửu khanh ở Đại Đan quốc tôn quý, thì không, bàn về chữ quý, họ còn lâu mới sánh bằng tam đại huyền tộc này. Bởi lẽ đối phương nếu nổi máu liều, muốn hô mưa gọi gió khuấy đảo thiên hạ cũng chẳng phải chuyện khó khăn gì. Huống chi những thuật pháp họ nắm giữ lại huyền diệu khôn lường, nếu chọc giận họ, họ ngấm ngầm giáng xuống một đạo thuật chú khiến cả nhà chết sạch, thì ai mà chống đỡ cho thấu?
Thế nên mới có câu thà đắc tội thế gia chứ đừng trêu vào huyền tộc, chính là vì đạo lý này. Đơn giản là đấu không lại, mà cũng chẳng ai dám đem tính mạng ra đặt cược.
Huyền tộc sinh ra đã mang vầng hào quang chí cao vô thượng, âu cũng vì họ có đủ vốn liếng để ngạo mạn.
Lãng Cửu Xuyên nghe xong khẽ nhíu mày, lòng dâng lên chút bực bội khó hiểu, nói: “Nếu đúng như vậy, chẳng phải ở cõi đời này bọn họ có thể đi ngang về tắt, hoành hành ngang ngược hay sao?”
“Cũng không hẳn. Huyền tộc tuy kiêu ngạo, nhưng ngươi tưởng đạo căn là cải trắng ngoài chợ, ai ai cũng có chắc? Bọn họ còn chẳng bằng ta đâu.” Tương Trì hừ một tiếng, nói tiếp: “Cứ lấy Vinh gia kia làm ví dụ đi, nghe đâu trong tộc họ có tới mấy trăm miệng ăn, nhưng cũng chỉ còn sót lại đúng một đạo căn, đã rơi xuống hàng mạt lưu rồi. Nếu đạo căn này mà gãy nốt, e rằng cái nhà họ Vinh kia cũng chẳng giữ nổi cơ nghiệp tổ tông để lại đâu.”
“Nói cách khác, dẫu cho họ nắm giữ tài nguyên Đạo gia phong phú, cũng chẳng phải ai ai cũng có thể nhập đạo tu hành?”
Tương Trì gật gù: “Đúng là như thế, nhưng người ta chỉ cần có một hai người là đủ để đứng vững nơi thế gian rồi. Hơn nữa mang trong mình huyết mạch ấy, dẫu ngộ tính không bằng kẻ có đạo căn, thì mưa dầm thấm lâu ít nhiều cũng biết đôi phần, dù sao tu đạo cũng là tu tâm dưỡng tính mà. Còn những kẻ sở hữu đạo căn thì chính là hòn ngọc quý trên tay của gia tộc, vì vậy ba đại tộc này thường liên hôn với nhau để đảm bảo đời sau có thể sinh ra đạo căn. Nhất là những người có đạo căn thì tuyệt đối không được thông hôn với kẻ ngoài huyền tộc, tránh cho huyết mạch bị lai tạp.”
Lãng Cửu Xuyên cười khẩy một tiếng, vẻ mặt đầy vẻ khinh thường.
“Ngoài ra, tam đại huyền tộc không dám trắng trợn lộng hành, ngoài việc chẳng phải ai cũng sinh ra đạo căn, còn là vì có một tộc khác đang đè đầu cưỡi cổ bọn họ.”
Lãng Cửu Xuyên ngẩn người, vẫn còn một tộc nữa ư?
“Thực ra nói tam đại tộc là chưa chuẩn, phải là tứ đại tộc mới đúng. Đạm Đài hoàng tộc cũng có truyền thừa đạo căn.” Tương Trì nói: “Vị quốc sư thần bí kia của Đan Quốc, cùng với hộ quốc thánh nữ, đều xuất thân từ hoàng tộc cả đấy.”
Ong.
Đầu Lãng Cửu Xuyên bỗng nhói lên một cơn đau xé ruột, nàng đau đớn rên khẽ một tiếng, ôm chặt lấy đầu rồi ngồi thụp xuống đất.