Chương 74
Ngày tổ mẫu còn sống, trong lòng Ngụy Nghiêu ngoài bà ra chẳng màng nghĩ tới điều gì khác. Đến khi bà mất, nàng khóc suốt ba ngày ròng rã, rồi cũng dần dần lấy lại bình tĩnh.
Thái hậu cũng đã qua đời, nàng chẳng còn cần mượn uy thế nhà chồng để khiến người kiêng dè nữa, bởi vậy nàng có thể hòa ly được rồi.
Còn về mẫu thân và đệ đệ, Nguyên Gia đế nay đang độ tráng niên, có khi đến ngày hoàng thượng băng hà thì đệ đệ cũng đã sớm trưởng thành và được phong vương, chẳng cần đến người tỷ tỷ như nàng phải ra tay nâng đỡ điều gì.
Giờ phút này, Ngụy Nghiêu chỉ mong được một mình lặng lẽ để tang tổ mẫu, yên bình hoài niệm về bà. Hòa ly rồi, nàng sẽ chẳng phải chịu cảnh bị người đời quở trách rằng mình không phải là một nàng dâu hiền thục của Lục gia nữa.
Ngụy Nghiêu nhìn Lục Trạc, tâm như chỉ thủy chờ chàng đáp lời.
Ánh mắt Lục Trạc tối lại, chàng cố gắng níu giữ: “Nàng muốn để tang lão thái thái, ta có thể cùng nàng để tang, không cần phải…”
Ngụy Nghiêu nhắm mắt, quay mặt đi: “Thế tử đã ký tên trên tờ khế ước, kính xin người hãy giữ lời hứa. Chuyện giữa hai ta đã thương lượng xong, trở về phủ rồi hẵng thưa lại với Quốc công gia và lão phu nhân. Sáng mai thiếp sẽ dọn về Thừa An bá phủ. Nhân lúc dân chúng đều đang bàn tán chuyện trong cung, hai ta cứ lặng lẽ hòa ly trong êm đẹp, cũng tránh bớt được những lời đàm tiếu dèm pha.”
Lục Trạc chẳng hề muốn hòa ly. Chàng có biết bao điều muốn thổ lộ, muốn giãi bày tâm ý của mình, hoặc lấy lợi ích của mối hôn sự này ra dỗ dành mong nàng tiếp tục ở lại Tùng Nguyệt đường.
Nhưng nàng lại nghiêng mặt đi, cự tuyệt lắng nghe chàng nói thêm bất cứ lời nào.
Nàng gầy đi nhiều. Nàng vốn không thuộc tạng người mảnh mai gầy guộc, lúc mới về lại kinh thành, gương mặt nàng vẫn còn đầy đặn, rạng ngời sức sống. Vậy mà lúc này đây, sắc mặt nàng trắng bệch, gương mặt chỉ to bằng bàn tay vùi sâu trong chiếc cổ áo lông hồ ly trắng muốt, dường như sắp lọt thỏm mất hút.
Nàng không hề thích chàng, thậm chí trong lòng vẫn còn chán ghét chàng sâu sắc. Lão thái thái đã ra đi, nàng chỉ muốn quay về Chính Xuân đường, nơi bà cháu từng nương tựa vào nhau.
“Được, tối nay ta sẽ viết thư hòa ly giao cho nàng.”
Khóe môi Ngụy Nghiêu khẽ cong lên: “Đa tạ thế tử.”
Đêm nay tại Anh Quốc công phủ, ắt hẳn có người trằn trọc thâu đêm.
Lục Trạc bảo Ngụy Nghiêu về Tùng Nguyệt đường trước, còn chàng một mình tới gặp Anh Quốc công và Anh Quốc công phu nhân để thưa rõ sự tình.
Anh Quốc công chưa rõ ngọn ngành bèn gắt: “Đang yên đang lành cớ sao lại muốn hòa ly? Nàng muốn để tang thì cứ để tang, hòa ly cái nỗi gì?”
Anh Quốc công thật sự chẳng hiểu nổi cô cháu dâu này, để tang thôi mà, có đến mức phải làm vậy không?
Anh Quốc công phu nhân bảo ông im miệng, rồi quay sang hỏi Lục Trạc: “Con đã bằng lòng rồi sao?”
Lục Trạc khẽ gật đầu: “Lão thái thái vừa mới qua đời, trong lòng nàng đau buồn khôn xiết. Lúc này tôn nhi nếu gượng ép giữ lại thì chỉ khiến nàng thêm phiền lòng. Chi bằng để nàng rời đi, đợi khi mãn tang, tôn nhi sẽ tìm cách đón nàng trở về.”
Anh Quốc công phu nhân trầm ngâm một lát rồi thở dài: “Như vậy cũng tốt, dạo trước hôn sự trùng hỉ làm quá vội vàng, phương diện nào chúng ta cũng làm khổ con bé Nghiêu Nghiêu, nhất là con đấy. Đợi qua một năm, khi Nghiêu Nghiêu nguôi ngoai nỗi đau, chúng ta sẽ bù đắp cho con bé một lễ tam môi lục sính đàng hoàng.”
Nghe vậy, Lục Trạc liền quỳ sụp xuống, hổ thẹn thưa: “Đều tại tôn nhi hồ đồ, khiến tổ mẫu và tổ phụ phải nhọc lòng.”
Anh Quốc công phu nhân bảo chàng đứng dậy: “Chúng ta mệt chút chẳng hề hấn gì, con tuyệt đối đừng có phạm ngốc nữa mà đẩy Nghiêu Nghiêu ra xa hơn. Được rồi, mau sang nói với mẹ con một tiếng đi, kẻo mẹ con lại sốt ruột lo lắng.”
Lục Trạc bèn cáo lui.
Anh Quốc công trừng mắt nhìn lão thê, rốt cuộc là có chuyện gì?
Anh Quốc công phu nhân đành phải kể lại đầu đuôi câu chuyện một lượt.
Mắt Anh Quốc công suýt nữa trừng rơi ra ngoài, cô cháu dâu xinh đẹp như tiên nữ nhường ấy, vậy mà thằng cháu trai của ông trước giờ vẫn chưa chịu viên phòng?
Ông nên vui mừng vì cháu mình đích thực là Liễu Hạ Huệ đối mặt mỹ nhân vẫn ngồi lòng không loạn, hay nên nổi trận lôi đình vì nó cứng đầu chẳng biết phân biệt tốt xấu đây?
Vợ chồng Anh Quốc công tuổi đã cao nên suy nghĩ cũng thoáng hơn, nhưng Hạ thị thì không thể nào chấp nhận nổi. Nghe tin con dâu muốn hòa ly, nguyên nhân là vì không muốn dân chúng bên ngoài chỉ trích mình chuyện để tang tổ mẫu, cũng không muốn làm lỡ dở con trai bà một năm ròng, Hạ thị vừa khóc vừa giận. Con dâu do một tay Ngụy lão thái thái nuôi lớn, phận nữ nhi đã gả đi mà để tang thì đã làm sao? Đến bà còn chẳng bận lòng, người ngoài lắm lời bàn tán cái gì chứ?
Một nàng dâu tốt đẹp nhường ấy, chỉ vì mấy lời dèm pha miệng đời mà vuột mất!
Chương 85
So với sự chấn động kinh thành do hôn sự trùng hỉ trước kia gây ra, ngày Ngụy Nghiêu và Lục Trạc hòa ly chỉ khuấy lên hai gợn sóng nhỏ lăn tăn, một gợn ở Anh Quốc công phủ, gợn còn lại ở Thừa An bá phủ.
Thừa An bá cùng thê tử Quách thị còn chưa kịp dùng bữa sáng thì quản sự đã hớt hải chạy vào bẩm báo, nói Tứ cô nương đã trở về, phía sau còn theo cả mấy cỗ xe ngựa!
Thừa An bá, Quách thị cùng thế tử gia Ngụy Tử Chiêm nghe tin cũng vội vã chạy ra.
Xe ngựa đã được dong vào trong Thừa An bá phủ.
Ngụy Nghiêu vận một thân y phục trắng muốt bước xuống xe ngựa.
“Nghiêu Nghiêu, thế này là có chuyện gì?” Đáy lòng Thừa An bá dâng lên nỗi bất an mãnh liệt, ông sải bước tới trước mặt cháu gái.
Ngụy Nghiêu hành lễ với bá phụ, rồi rút từ trong tay áo ra bức thư hòa ly do Lục Trạc viết, đưa cho ông.
Lý do hòa ly ngoài mặt được Lục Trạc viết rõ ràng rành mạch, chàng còn hết lời khen ngợi lòng hiếu thảo của Ngụy Nghiêu dành cho lão thái thái. Tóm lại, chàng chẳng hề muốn hòa ly, chỉ vì tôn trọng hiếu tâm của Ngụy Nghiêu nên mới nén đau lòng tiếc nuối mà để nàng về nhà.
Nhưng trong mắt Thừa An bá và Quách thị, lý lẽ viết hay ho đến mấy thì rốt cuộc cũng chỉ biểu thị một điều duy nhất: Ngụy Nghiêu thật sự đã hòa ly với Lục Trạc!
Nhìn Ngụy Nghiêu trong bộ đồ tang trắng toát, Quách thị thầm reo hò đắc chí vạn lần trong bụng! Ngụy Nghiêu không xứng với Lục Trạc là chuyện khắp bàn dân thiên hạ ở kinh thành đều công nhận. Hồi Ngụy Nghiêu gả đi trùng hỉ, Quách thị đã đinh ninh con bé chẳng thể ở lại Anh Quốc công phủ được bao lâu, nay quả nhiên đúng như bà ta dự liệu, Ngụy Nghiêu đã bị đuổi khỏi Anh Quốc công phủ rồi! Để tang cho lão thái thái cái nỗi gì chứ, chắc chắn là Ngụy Nghiêu thấy Lục gia không dung thứ nổi mình nên mới mượn cớ lão thái thái qua đời để tìm mảnh vải che mặt, bằng không đợi Lục gia hưu thê thì càng mất mặt hơn!
Quách thị mừng rỡ khôn xiết, hận không thể lập tức viết ngay một phong thư gửi cho con gái út Ngụy Thiền đang theo phu quân đi nhậm chức nơi đất khách, để báo cho Ngụy Thiền tin vui này!
Còn Thừa An bá thì tức đỏ bừng mặt. Ông cũng nghĩ rằng cháu gái mình bị đuổi ra khỏi cửa, nhưng ông thương xót cháu, phẫn nộ vì Anh Quốc công phủ lại dám khinh nhờn, ức hiếp Ngụy gia bọn họ ngay lúc lão thái thái vừa mới qua đời như thế!
“Đi, theo bá phụ đến tìm bọn họ nói lý lẽ!” Thừa An bá nắm chặt lấy cổ tay Ngụy Nghiêu, giận đến tóc tai dựng ngược. Đường huynh của Ngụy Nghiêu là Ngụy Tử Chiêm lại càng hăng hơn, lập tức sai người gọi hết thảy hộ viện của Bá phủ tới.
Mắt Ngụy Nghiêu thoáng cay xè. Bất kể mẹ con Quách thị và Ngụy Thiền đối xử với nàng ra sao, thì bá phụ và đường huynh trước giờ chưa từng coi nàng là người ngoài.
Ngụy Nghiêu vội cản hai cha con lại, xin Thừa An bá dời bước sang phòng riêng. Nàng một mình giải thích rõ ngọn ngành mọi sự với ông, bao gồm cả bản khế ước làm giả phu thê trong vòng năm năm kia.
Thừa An bá bàng hoàng đến mức không thốt nên lời.
Ngụy Nghiêu quỳ trước mặt ông, điềm tĩnh thưa: “Bác, thỏa thuận ban đầu tổ mẫu vốn biết rõ, chỉ là cháu sợ bà buồn nên vẫn luôn giấu chuyện ân ái giữa cháu và Lục thế tử đều là diễn kịch. Bác à, trên dưới Anh Quốc công phủ đối đãi với cháu rất tốt, có điều cháu với thế tử chẳng hợp tính nhau, bởi thế mới tự nguyện hòa ly. Lúc này cháu chỉ muốn để tang tổ mẫu, miệng đời ngoài kia bàn tán ra sao cũng chẳng liên can gì tới cháu. Kính xin bác đừng oán giận Anh Quốc công phủ, càng không cần phải lo lắng cho cháu nữa.”
Thừa An bá nhìn đứa cháu gái quỳ trước mặt mình, hiểu chuyện thấu tình đạt lý và độ lượng dường ấy, ông lại càng hổ thẹn tuôn trào nước mắt: “Đều tại bác vô dụng, để cháu phải chịu nhiều uất ức nhường này.”
Nếu ông có bản lĩnh, nếu ông có thể đưa Thừa An bá phủ chen chân vào hàng ngũ huân quý bậc nhất kinh thành, thì còn ai dám buông lời dèm pha cháu gái ông nữa? Ngay cả khi Lục Trạc hôn mê bất tỉnh, vợ chồng Anh Quốc công cũng chẳng dám đến Ngụy gia cầu cháu gái ông gả đi trùng hỉ. Đáng thương cho nhị đệ chỉ có độc mỗi mụn con gái này, làm huynh trưởng như ông thật có lỗi với nhị đệ dưới suối vàng, cũng chưa làm tròn bổn phận che chở cho cháu gái.
Hai đứa con gái của ông đều có được mối lương duyên tốt đẹp, còn cháu gái ông thì lại…
Thừa An bá vừa mới chôn cất mẫu thân xong, lúc này ngồi trên ghế lấy tay áo che mặt, nước mắt nước mũi lại rưng rưng ướt đẫm vạt áo.
Ngụy Nghiêu quỳ gối tiến lại gần, nghẹn ngào: “Bác đừng như vậy mà, Nghiêu Nghiêu thật sự không sao đâu. Cháu nói cho bác những chuyện này là vì không muốn bác phải bận tâm lo nghĩ. Bác mà còn khóc nữa là Nghiêu Nghiêu chạy sang nương nhờ ngoại tổ mẫu đấy, chẳng dám ở lại bản gia đâu.”
Thừa An bá ngửa đầu lên, hồi lâu sau mới nén được dòng lệ, bàn tay to lớn nhẹ nhàng đặt lên đầu Ngụy Nghiêu: “Được, được, bác không khóc nữa. Nghiêu Nghiêu cứ yên tâm ở lại trong nhà, không cần phải bận tâm suy nghĩ điều gì cả. Đợi khi bác mãn tang, nhất định sẽ tìm cho cháu một mối hôn sự thật tốt.”
Ngụy Nghiêu chẳng cầu mong hôn sự tốt lành gì, chỉ mong được thanh thản, yên tĩnh để tang tổ mẫu là đủ rồi.
“Bác ơi, chuyện này Nghiêu Nghiêu chỉ thưa với một mình bác thôi, bác đừng nói lại cho bác dâu và đại ca nghe nữa nhé. Thế tử không muốn cùng cháu viên phòng, một khi truyền ra ngoài thì mất mặt nhất vẫn là cháu. Cứ coi như Nghiêu Nghiêu quá mực hiếu thuận, thuần túy là vì muốn để tang tổ mẫu nên mới chủ động xin hòa ly đi ạ.” Ngụy Nghiêu cúi đầu thưa.
Thừa An bá lấy tay áo lau mặt: “Nghiêu Nghiêu yên tâm, bác biết phải làm thế nào rồi, mặc cho bác dâu con có dò la ra sao bác cũng quyết không hé răng nửa lời.”
Ngụy Nghiêu tin tưởng bá phụ của mình.
Toàn bộ của hồi môn thuộc về nàng đều được chuyển trở lại hậu viện Chính Xuân đường. Sau khi thu xếp mọi bề thỏa đáng, Ngụy Nghiêu sai người đóng chặt cửa viện Chính Xuân đường lại, ngoại trừ người hầu kẻ hạ có việc cần thiết ra vào, nàng tuyệt đối không tiếp bất kỳ vị khách nào.
Quách thị vô cùng tò mò muốn biết trượng phu cùng Ngụy Nghiêu đã nói những gì trong thư phòng, chỉ tiếc bà ta vừa mở miệng đã bị Thừa An bá sa sầm nét mặt mắng cho một trận nên thân.
Quách thị bụng bảo dạ, hẳn là trượng phu cũng chẳng muốn vì Ngụy Nghiêu mà đắc tội với Anh Quốc công phủ, lại ngại không tiện nói thẳng ra nên mới thẹn quá hóa giận như thế.
Đến khi Thái hậu được an táng vào hoàng lăng, kỳ quốc tang ba tháng kết thúc, kinh thành rốt cuộc cũng khôi phục vẻ phồn hoa náo nhiệt thường nhật.
Các thế gia bắt đầu qua lại nhiều hơn, chuyện Ngụy Nghiêu và Lục Trạc lặng lẽ hòa ly từ trước Tết rốt cuộc cũng lan truyền khắp nơi. Phàm là kẻ hay tin, ai nấy đều mang cùng một suy nghĩ giống Quách thị, cho rằng Ngụy Nghiêu không sao sống nổi ở Anh Quốc công phủ nên mới mượn cớ này chủ động xin ra đi, còn Anh Quốc công phủ cũng chỉ thuận nước đẩy thuyền làm ơn làm phước mà thôi.
Rồi dần dà lại rộ lên tin đồn rằng Tứ cô nương Ngụy gia sau khi về phủ chỉ ru rú trong viện của lão thái thái, đại môn bất xuất nhị môn bất mại, đến cả người nhà Thừa An bá cũng chẳng thèm gặp mặt. Chẳng rõ là nàng không còn mặt mũi nào nhìn ai, hay đã nản lòng thoái chí, từ nay ăn chay niệm Phật, dứt áo nương nhờ cửa thiền.
Dường như những lời dị nghị bàn tán ấy cũng lọt tới tai bậc tôn quý nơi thâm cung, chẳng bao lâu sau, một đạo thánh chỉ do đích thân Nguyên Gia đế ban xuống đã được đưa tới Thừa An bá phủ.
Nửa đầu thánh chỉ viết rằng, thuở xưa thế tử Anh Quốc công phủ là Lục Trạc lâm vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc, thứ nữ Ngụy gia lòng ôm nhân ái, cam lòng gả đi trùng hỉ vì trang hào kiệt. Sau khi vu quy, nàng đối với bậc trưởng bối nhà chồng thì cung kính hiếu thuận, đối với phu quân thì săn sóc chu đáo, hết mực được trên dưới Anh Quốc công phủ khen ngợi yêu mến. Những điều này đích thân hoàng đế đã kiểm chứng qua Anh Quốc công, Anh Quốc công phu nhân và Lục Trạc.
Nửa sau của thánh chỉ lần lượt ngợi ca đức hạnh hiền lương của Ngụy lão thái thái cùng mối tình thâm sâu nặng giữa hai bà cháu, lại nhấn mạnh Ngụy Nghiêu dẫu được gả cho bậc anh kiệt Lục Trạc mà muôn vàn khuê tú khắp thành tranh nhau muốn cưới, vậy mà vẫn cam lòng tự xin quy gia để chịu tang cho tổ mẫu, tấm lòng hiếu thảo ấy sánh ngang bậc Trọng Do cõng gạo trăm dặm, Đinh Lan tạc gỗ thờ cha mẹ!
Bởi thế, Nguyên Gia đế đặc cách phong thứ nữ Ngụy gia làm Hiếu Nhân quận chúa, lại ban thưởng Quận chúa phủ nhằm biểu dương tấm lòng chí thuần chí hiếu của nàng.
Chiếu thư vừa ban ra, cả kinh thành lập tức xôn xao náo động.
Có triều thần toan lên tiếng phản đối việc Nguyên Gia đế phong nữ tử ngoại họ làm quận chúa, cho rằng lòng nhân hiếu của Ngụy Nghiêu còn xa mới đạt tới tầm mức được tán dương trong thánh chỉ.
Nguyên Gia đế liền cất tiếng hỏi Anh Quốc công và Lục Trạc đang cùng đứng nơi đại điện.
Anh Quốc công khảng khái bày tỏ, nếu không nhờ Ngụy Nghiêu chịu gả tới trùng hỉ cho cháu đích tôn của ông, thì huyết mạch trưởng tử của ông e rằng đã tuyệt tự, Ngụy Nghiêu thực là người chí nhân!
Lục Trạc cũng trầm giọng đáp, chàng cùng Ngụy Nghiêu phu thê ân ái, chỉ vì nàng vừa muốn để tang cho tổ mẫu lại vừa không nỡ làm lỡ dở thanh xuân của chàng nên mới tự xin về nhà, ấy đích thị là chí hiếu.
Hai ông cháu kẻ xướng người họa, tức khắc bịt kín miệng những quan viên toan phản đối.
Dẫu vậy, bách tính bên ngoài vẫn bán tín bán nghi, đinh ninh rằng do Nguyên Gia đế thiên vị Ngụy Nghiêu, khăng khăng muốn phong nàng làm quận chúa nên Anh Quốc công và Lục Trạc mới đành bấm bụng phối hợp theo.
Còn duyên cớ vì sao Nguyên Gia đế lại thiên vị Ngụy Nghiêu đến thế, ắt hẳn là vì Lệ quý nhân rồi!
Cứ nhắc tới Lệ quý nhân là dân chúng lại càng rôm rả bàn tán. Năm xưa khi Lệ quý nhân mới tiến cung, dân gian từng say sưa thêu dệt nên biết bao giai thoại phong lưu tình ái giữa nàng cùng Nguyên Gia đế. Thuở ấy Lệ quý nhân được sủng ái đến nhường nào, ngay cả Thái hậu nương nương cũng chẳng làm gì nổi nàng, mãi đến khi Thái hậu ngã bệnh, Nguyên Gia đế vì lòng hiếu thảo mới đành dằn lòng dứt bỏ ái tình, đày Lệ quý nhân cùng tứ hoàng tử đến Tây Sơn hành cung xa xôi hẻo lánh.
Nay Thái hậu nương nương đã khuất núi, e rằng chẳng mấy chốc Nguyên Gia đế sẽ đón mẹ con Lệ quý nhân hồi cung thôi!
Bách tính thì đoan chắc mười mươi là thế, vậy mà trong cung lại chẳng hề có lấy nửa điểm động tĩnh.
Quận chúa phủ đã bắt đầu khởi công xây dựng, vị Hiếu Nhân quận chúa mới được sắc phong vẫn ngày ngày ẩn mình nơi hậu trạch, chẳng ai hay nàng đang toan tính điều chi.
Anh Quốc công phủ vẫn là phủ đệ huân quý tột đỉnh chốn kinh kỳ, thế tử Lục Trạc lại trở về cảnh lẻ bóng đơn chiếc, dần dà bà mối khắp nơi dập dìu lui tới, ai nấy đều tranh nhau gả khuê tú nhà mình vào Lục gia. Tiếc thay Anh Quốc công phu nhân chẳng ưng một mối nào, bà chỉ thác cớ rằng mình tuổi tác đã cao, không muốn nhọc lòng lo chuyện hôn nhân của con cháu nữa, để mặc cho thế tử tự mình chọn lựa.
Tin tức này vừa lộ ra, chẳng biết do ai khơi mào nhắc tới Tạ lục cô nương Tạ Họa Lâu của Tạ gia mà phố phường lại râm ran thêm lời đồn mới. Người ta bảo Tạ lục cô nương và Lục thế tử vốn là một đôi trời sinh một cặp, chỉ vì lão thái phó tạ thế nên nàng mới lỡ mất cơ hội gả tới trùng hỉ cho Lục thế tử, song thực chất trong lòng Lục thế tử vẫn luôn vương vấn Tạ lục cô nương, lần này cố ý đợi Tạ phủ đoạn tang rồi mới sang cầu thân.
Dân chúng thạo tin bấm ngón tay tính toán, nhận ra Lục thế tử cũng chẳng cần phải đợi quá lâu, sang năm khi xuân ấm hoa nở, toàn bộ Tạ phủ trừ tang, Lục thế tử sang dạm ngõ là vừa vặn nhất!
Những lời đàm tiếu xoay quanh mối duyên nợ giữa ba người Ngụy Nghiêu, Lục Trạc và Tạ lục cô nương chưa bao giờ dứt hẳn, chỉ là lúc thì rộ lên huyên náo, khi lại chìm lắng thành vài câu bâng quơ. Cho đến tận khi đông tàn giá rét ùa về, Nguyên Gia đế dẫn theo các hoàng tử hoàng tôn tới hoàng lăng cúng tế giỗ đầu Thái hậu nương nương, Hoàng hậu cùng tam phi đều tề tựu đông đủ, bách tính mới chợt ngớ người nhận ra: Lệ quý nhân vẫn đang ngụ tại hành cung!
Hồi Thái hậu nương nương vừa băng hà, từng có kẻ quả quyết rằng Nguyên Gia đế sắp sửa đón mẹ con Lệ quý nhân về kinh; lúc Tứ cô nương Ngụy gia thụ phong quận chúa, tin đồn mẹ con Lệ quý nhân sắp hồi cung lại càng dấy lên như cồn. Vậy mà chớp mắt một năm trôi qua, cớ sao Nguyên Gia đế vẫn chẳng hề đoái hoài gì đến Lệ quý nhân? Lẽ nào ngài đã thực sự quên bẵng nàng rồi? Chẳng lẽ phong hiệu quận chúa của Tứ cô nương Ngụy gia thực chất chỉ là vì hoàng thượng thuận mắt khen ngợi lòng hiếu thảo của nàng mà thôi?
Tiếng pháo nổ giòn tan vang dội, lại một năm mới sang.
Sáng mồng một Tết, tổng quản thái giám của Quận chúa phủ là Ngụy công công mang theo bản vẽ địa đồ Quận chúa phủ mới nhất đến chúc Tết quận chúa.
Ngụy Nghiêu ngụ tại Chính Xuân đường, Ngụy công công vừa tới phủ thì người đầu tiên gặp mặt chính là Thừa An bá và Quách thị.
Ngụy công công khách khí hành lễ với Thừa An bá một cái, sau đó liền theo chân nha hoàn rảo bước đi thẳng tới Chính Xuân đường.
Quách thị đưa mắt đầy vẻ hậm hực ghen ghét nhìn trừng trừng theo bóng lưng Ngụy công công.
Tất nhiên bà ta chẳng thèm ghen tị với một tên thái giám, kẻ khiến bà ta đỏ mắt ghen ghét chính là Ngụy Nghiêu, là Tiểu Châu thị. Thiên hạ bao nhiêu người phụ nữ đoan trang thủ tiết thủ giá, cớ sao Nguyên Gia đế lại cứ nhất mực phong một mình Ngụy Nghiêu làm cái gì mà Hiếu Nhân quận chúa, rõ rành rành là vì nể mặt Tiểu Châu thị! Người ngoài chưa từng được chiêm ngưỡng nhan sắc khuynh thành của Tiểu Châu thị nên mới đoán già đoán non đủ điều, chứ từ giây phút thánh chỉ sắc phong quận chúa giáng xuống, Quách thị đã biết tỏng Tiểu Châu thị sớm muộn gì cũng sẽ trở về!
Trước khi được phong quận chúa, Ngụy Nghiêu chẳng qua chỉ là một đứa con gái lỡ thì sa sút để khắp kinh thành chê cười gièm pha. Khổ nỗi con ranh ấy khôn khéo quá đỗi, cứ trốn tiệt trong Chính Xuân đường không chịu gặp ai, làm Quách thị chẳng tìm đâu ra cơ hội để châm chọc mỉa mai một phen. Nay Ngụy Nghiêu đã đường hoàng thành quận chúa, địa vị còn xếp trên cả một Thừa An bá phu nhân như bà ta, Quách thị đến cả nửa lời mỉa mai cũng không dám hé răng, bao nhiêu lời cay nghiệt nghẹn ứ nơi cổ họng đành phải nuốt ngược vào bụng đến tức anh ách!
Thừa An bá thoáng liếc thấy bộ mặt xấu xí vặn vẹo của Quách thị, bèn Phủi tay bỏ đi.
Tại Chính Xuân đường, đây là lần thứ hai Ngụy công công được diện kiến vị tân chủ tử của mình - Hiếu Nhân quận chúa.
Đáng lý ra trước Tết quận chúa đã phải trừ tang, vậy mà nàng vẫn vận một thân áo trắng thanh thuần. Mái tóc nàng đen nhánh mượt mà, ánh lên vẻ óng ả tựa trân châu đen, trên đầu chỉ cài độc một chiếc trâm gỗ đàn hương mộc mạc. Lối trang điểm giản đơn khôn xiết, thế nhưng dung nhan của nàng lại chính là cảnh sắc diễm lệ nhất chốn nhân gian: mày ngài thanh tú như rặng núi xa, đôi mắt long lanh tựa làn nước mùa xuân, bờ môi son thắm mọng đầy vẻ mê hoặc lòng người.
Trước kia Ngụy công công chưa từng được gặp quận chúa, nhưng kể từ khoảnh khắc Nguyên Gia đế phái ông ta đến trợ giúp nàng quản lý Quận chúa phủ, Ngụy công công đã ngầm hiểu được sức nặng của nàng trong lòng đương kim hoàng thượng.
Ngay từ lần đầu tiên tới bái kiến, Ngụy công công đã hoàn toàn bị vẻ kiều diễm tuyệt trần của quận chúa hớp hồn. Gặp được mỹ nhân bực này, đáng lẽ phải nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, yêu thương che chở hết mực mới phải, những kẻ độc mồm độc miệng đi buông lời gièm pha bôi nhọ quận chúa, chẳng qua đều chỉ vì ghen ăn tức ở với nàng mà thôi!
Nhắc nhở: Nhấn phím Enter để quay lại mục lục, nhấn phím ← để trở về trang trước, nhấn phím → để sang trang kế tiếp, bấm thêm dấu trang để tiện theo dõi trong lần đọc sau.