Chúng tôi rơi xuống khe núi này.
Nó vừa hẹp vừa sâu.
Ngoài phạm vi chiếu sáng của đèn pin là một màu đen kịt.
Bị hạn chế bởi tầm nhìn, chẳng ai biết địa hình phía xa rốt cuộc thế nào.
Anh To Con đưa tay thử hơi thở của kỹ sư Lưu, rồi rụt tay lại, run giọng nói: “Xong rồi, xong rồi.
Hết thở luôn rồi.”
Tôi bò qua, sờ động mạch cổ của kỹ sư Lưu.
Quả nhiên ông ấy đã chết, tim cũng ngừng đập.
Tôi thở dài, nói với Anh To Con: “Chôn kỹ sư Lưu đi.”
Tôi lấy xẻng công binh ra định đào hố.
Ngõa ngăn tôi lại, chỉ xuống mặt đất: “Côn trùng, lửa.”
Được Ngõa nhắc, tôi mới nhớ ra chuyện trong thung lũng.
Lúc đó, vì muốn đào hố chôn vị kỹ sư bị ngã chết, chúng tôi đã đào ra một con bọ rùa giống như ma quỷ.
Cả tiểu đội mười bốn người, chỉ trong mấy phút kinh tâm động phách đã chết mất mười.
Xem ra đất ở đây không thể tùy tiện đào bới.
Trời mới biết bên dưới còn có thứ quỷ quái gì.
Tôi có một linh cảm.
Loài côn trùng kỳ quái ấy không đơn giản chỉ là một sinh vật thần bí.
Sau khi thiêu chết hai người, một con lại tách thành ba con.
Đây chỉ là trùng hợp thôi sao?
Nghĩ mãi cũng không sao hiểu nổi.
Nhưng dù thế nào cũng không thể để thi thể đồng đội nằm chỏng chơ bên ngoài.
Chúng tôi chỉ còn cách chọn một biện pháp trung hòa.
Tôi dùng đèn pin soi sáng, Ngõa và Anh To Con nhặt ít đá vụn xung quanh phủ lên thi thể kỹ sư Lưu, coi như dựng cho ông ấy một ngôi mộ đá đơn sơ.
Trong lúc ấy, Lạc Ninh vẫn ngồi im dưới đất, lặng lẽ nhìn ngôi mộ đá của kỹ sư Lưu.
Cuối cùng cô không thể kìm nén thêm được nữa, òa khóc.
Nỗi đau bị dồn nén trong lòng lập tức tuôn ra như dòng nước vỡ đê.
Tôi muốn an ủi cô, nhưng thật sự chẳng biết phải nói gì.
Tiếng khóc của cô cũng khiến sống mũi tôi cay cay, lòng đau như bị dao cứa.
Tôi nhớ tối hôm qua, cả tiểu đội vẫn còn quây quần bên đống lửa trại, cùng nhau hát vang những bài ca quân đội.
Tiếng hát hào hùng dường như vẫn còn văng vẳng bên tai.
Vậy mà hôm nay, phần lớn chiến hữu đã vĩnh viễn nằm lại dưới Đại Băng Xuyên của núi Côn Luân.
Tôi đỡ Lạc Ninh đứng dậy, cùng mọi người mặc niệm kỹ sư Lưu và những chiến hữu khác.
Khi ấy, bất kể là trường hợp nào, người ta cũng phải trích dẫn Mao Tuyển.
Tôi dẫn đầu đọc: “Trời đất trắng xóa, hành quân trong tuyết càng thêm cấp bách.”
Ba người còn lại cũng đồng thanh đáp lại: “Đầu núi cuối núi, cờ đỏ tung bay vượt cửa ải.
Chỉ có hy sinh mới tạo nên chí lớn, dám khiến trời trăng đổi sang ngày mới.”
Sau đó, mọi người giơ nắm tay phải lên tuyên thệ: “Chúc vị lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch vạn thọ vô cương, vạn thọ vô cương.
Chúc đồng chí Lâm Bưu, người bạn chiến đấu thân thiết của Mao Chủ tịch, thân thể khỏe mạnh, mãi mãi khỏe mạnh.
Các chiến hữu, các đồng chí, hãy yên tâm ra đi.
Có người chết nhẹ tựa lông hồng, có người chết nặng tựa Thái Sơn.
Chết vì lợi ích của nhân dân thì nặng hơn Thái Sơn.
Các đồng chí chính là hy sinh vì lợi ích của nhân dân.
Chúng tôi nhất định sẽ kế thừa di chí của các liệt sĩ cách mạng, bước theo dấu chân nhuộm đỏ bằng máu của các đồng chí, tiến hành Cách mạng Văn hóa Vô sản đến cùng.
Thắng lợi cuối cùng mãi mãi thuộc về công nông binh.”
Khi ấy tôi vẫn chỉ là một tân binh non nớt, chưa từng tham gia lễ truy điệu chiến hữu, cũng chẳng biết nên nói gì.
Tôi chỉ nhớ lúc người khác họp đều nói như vậy.
Trong hoàn cảnh ấy, cũng chẳng còn phân biệt thích hợp hay không thích hợp nữa.
Rất lâu sau, mọi người mới dần bình tĩnh lại từ trong đau khổ.
Chúng tôi xử lý qua loa những vết thương trên người.
May mà đều chỉ là vết thương nhẹ, không ảnh hưởng đến việc đi lại.
Ăn đại vài miếng lương khô ép, chúng tôi tụ lại bàn bạc xem bước tiếp theo phải làm thế nào.
Muốn ra khỏi thung lũng bị mảng tuyết vùi lấp là chuyện không thể.
Tôi đoán cả thung lũng có lẽ đã bị lở tuyết lấp kín.
Bây giờ chỉ còn cách tìm một lối ra khác.
Ngõa vỗ vỗ túi đạn trống không bên người, ra hiệu rằng đạn không còn nhiều.
Khi vào núi, vì phải mang theo rất nhiều trang bị nên lượng đạn được chuẩn bị chỉ ở mức tối thiểu.
Mỗi người chỉ có ba băng đạn súng trường.
Dù sao đây cũng không phải nhiệm vụ chiến đấu, khu vực này lại chẳng có thổ phỉ gì, nên trước đó chúng tôi đã hơi chủ quan.
Lúc xảy ra lở tuyết, chúng tôi còn vứt bỏ một phần đạn dược.
Giờ mỗi người trung bình chỉ còn khoảng hai mươi viên đạn, tổng cộng còn hai quả lựu đạn.
Dưới lòng đất hẳn chẳng có dã thú gì, có nhiều đạn hơn cũng vô dụng.
Đủ để tự vệ là được.
Lương khô thì hết sạch.
Những thứ có thể ăn vừa rồi cũng đã ăn hết.
Chúng tôi phải tìm cách ra ngoài trong vòng hai ngày, nếu không thì dù không gặp chuyện gì khác cũng sẽ chết đói dưới lòng đất.
Trong cái rủi có cái may, trên người Lạc Ninh vậy mà vẫn còn một chiếc la bàn.
Khe núi sâu hơn tưởng tượng rất nhiều.
Đi về phía nam được một đoạn thì đến cuối đường.
Khe nứt trong lòng đất lại ngoặt về phía bắc.
Theo cảm giác của tôi, hình như chúng tôi đã đi xuống dưới Đại Băng Xuyên.
Chúng tôi đi trong bóng tối hơn mười tiếng đồng hồ.
Càng đi, địa thế càng thấp, không gian dưới lòng đất cũng ngày càng rộng.
Lạc Ninh dùng áp kế đo thử.
Dựa vào số liệu khí áp quy đổi ra độ cao so với mực nước biển, nơi này vậy mà chỉ còn hơn bốn trăm mét, gần tương đương Tứ Xuyên, thấp hơn rất nhiều so với độ cao trung bình hơn bốn nghìn mét của cao nguyên Thanh Tạng.
Cứ đi tiếp thế này, e rằng chúng tôi sẽ đi thẳng xuống tận tâm Trái Đất mất.
Cuối cùng địa thế cũng trở nên bằng phẳng.
Bên tai vang lên tiếng nước chảy xiết, dường như cách đó không xa có một con sông ngầm lớn.
Thấy phía trước không còn đường dốc xuống, tôi dùng đèn pin soi khắp nơi, muốn tìm xem có lối nào đi lên không.
Đột nhiên, tôi phát hiện ánh sáng từ đèn pin chiếu lên vách đá tạo thành vô số tia phản quang yếu ớt, trông chẳng khác nào chiếu vào vô số mảnh gương vỡ.
Lạc Ninh kinh ngạc kêu lên: “Là mica!”
Ba người chúng tôi nghe cô nói cái gì mà mica, cũng chẳng biết đó là thứ gì.
Nhưng nghe giọng cô đầy vẻ kinh hãi, chúng tôi tưởng đã xảy ra chuyện khẩn cấp, vội vàng chắn Lạc Ninh ra sau lưng, nhanh nhất có thể tháo súng trường bán tự động Kiểu 56 trên lưng xuống, kéo khóa nòng lạch cạch mấy cái, chuẩn bị nổ súng.
Lạc Ninh ngạc nhiên hỏi: “Mấy người làm gì vậy?”
Tôi vừa cầm súng cảnh giới vừa hỏi Lạc Ninh: “Mẹ gì đực gì?
Ở đâu?”
Lạc Ninh nói: “Không phải động vật.
Ý tôi là xung quanh đều là tinh thể.
Mica và thủy tinh thể thường hình thành trong cùng một tầng địa chất.
À, quả nhiên ở đây cũng có thủy tinh thể.”
Lạc Ninh chủ yếu phụ trách công việc đo vẽ bản đồ, nhưng thường xuyên làm việc cùng các đội thăm dò địa chất nên cũng biết khá nhiều kiến thức về địa chất khoáng sản.
Những tinh thể trông giống những mảnh thủy tinh mỏng xuất hiện quanh chúng tôi là một loại tinh thể thuộc hệ tinh thể đơn tà, chỉ có thể xuất hiện trong tầng đá biến chất Thái Cổ.
Trữ lượng dưới lòng đất ở Hà Bắc rất lớn, nhưng mica ở đây có màu cực kỳ đậm, tạo thành những khối hình lục giác lớn.
Chất lượng vượt xa mica sản xuất ở huyện Linh Thọ, Hà Bắc, trong đất liền.
Chỉ nhìn vào độ đậm của màu mica cũng đủ thấy vị trí chúng tôi đang đứng sâu đến mức khó mà tưởng tượng nổi.
Lạc Ninh bị những khối mica lớn hiếm thấy xung quanh thu hút, nhìn khối này rồi lại ngắm khối kia.
Tôi tiện tay nhặt một mảnh lên xem thử, chẳng thấy có gì đáng ngạc nhiên.
Đúng lúc ấy, tôi chợt nghe Anh To Con hét lên với Ngõa: “Lạp Mộc Thố, cậu làm gì đấy?
Mau đứng lên.”
Tôi dùng đèn pin soi qua, thấy Ngõa đang dập đầu dưới đất theo cách của người Tạng, cả người nằm rạp xuống.
Thằng nhóc này làm gì vậy?
Đang lạy ai?
Tôi lại chiếu đèn về phía trước mặt cậu ta, không khỏi hít ngược một hơi lạnh.
Dưới lòng đất vậy mà sừng sững một tòa tháp gỗ hình chữ “Kim”, được dựng bằng hàng nghìn thân cây khổng lồ.
Trên thân tháp lấp ló vô số ánh sáng đỏ.
Nhờ những tia sáng yếu ớt ấy, có thể nhìn thấy phần nền tháp rộng gần hai trăm mét, được đắp bằng đất đá nện chặt.
Thân tháp được dựng từ gỗ bách nghìn năm, tổng cộng chia thành chín tầng.
Mỗi tầng đều chất đầy những bộ xương khô mặc trang phục cổ kỳ lạ, nam nữ già trẻ đều có.
Trên từng thân cây lớn còn khắc kín những chữ bí mật của người Tạng.
Đây là mộ phần sao?
Quy mô khổng lồ như vậy, rốt cuộc là ai xây dựng dưới lòng đất?
Tôi đi tới kéo Ngõa đang dập đầu dưới đất đứng lên: “Đảng ta, quân đội ta tôn trọng chính sách dân tộc.
Cậu là người Tạng thì không nói, nhưng đã mặc quân phục thì chính là một thành viên của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Đã là người cộng sản thì đừng có giở cái trò chủ nghĩa duy tâm ấy ra.
Không được làm mấy chuyện mê tín tôn giáo này.”
Anh To Con đứng bên cạnh bật cười: “Được đấy lão Hồ.
Mấy câu này nói ra nghe có vẻ ra dáng lắm, có tố chất làm chính trị viên đấy.”
Lạc Ninh vẫn luôn xem mica.
Nghe ba chúng tôi cãi nhau, cô cũng đi tới gần quan sát.
Tôi khoát tay với Anh To Con, bảo anh ta đừng xen vào, rồi tiếp tục hỏi Ngõa: “Đây là tháp gì?
Chữ viết trên đó cậu có nhận ra không?”
Ngõa cứ lắc đầu mãi.
Tôi nói: “Cậu nhóc này, không biết thì cậu dập đầu cái gì?
Thấy nhiều xương chết thế này nên sợ đến ngây người rồi à?”
Trên mặt Ngõa đầy vẻ hoảng hốt.
Cậu ta dùng thứ tiếng Hán không mấy lưu loát nói: “Hồ… cái đồ ngốc này, tôi bảo để tôi nói… lại cứ kéo tôi…
Lạp Nhĩ Lạp Đa Tư, chín… chín tầng yêu lâu.”
Nửa câu đầu tôi chẳng hiểu gì, nhưng bốn chữ phía sau thì nghe rất rõ.
Cái gì mà Cửu Tầng Yêu Lâu?
Dùng để làm gì?
Chẳng phải cũng chỉ là chỗ chôn người chết thôi sao?
Còn chưa đợi Ngõa nói tiếp, Lạc Ninh đã rón rén chạy từ bên cạnh tòa tháp về, ra hiệu cho chúng tôi im lặng.
Cô chỉ vào tòa tháp phía sau, thì thầm bảo chúng tôi tuyệt đối đừng lên tiếng, kẻo đánh động đến chúng.
Thấy vẻ mặt cô nghiêm trọng, tôi biết có lẽ đã xảy ra chuyện, nhưng không biết cô đang nói đến thứ gì.
Tôi hạ giọng hỏi: “Đánh động cái gì?
Người chết trong tháp à?”
Lạc Ninh căng thẳng nói: “Không phải.
Là loại bọ rùa có lửa kia.
Chúng đều đang ngủ trên xác chết, nhiều đến mức không đếm xuể.”
Nghe Lạc Ninh nói, tôi mới nhận ra những ánh sáng đỏ dày đặc trên tòa tháp gỗ kia vốn đều phát ra từ những con bọ rùa trong suốt ấy.
Mặc dù bản thân tôi ít nhiều cũng có chút khí phách không sợ trời không sợ đất của một quân nhân cách mạng, nhưng vừa nghĩ đến loại bọ rùa kỳ quái kia, trong lòng vẫn thấy hoảng sợ.
Loài sinh vật vượt quá mọi hiểu biết thông thường này quá khó đối phó.
Cảnh tượng thảm khốc trong thung lũng đã để lại cho tôi nỗi sợ hãi quá lớn.
Tôi ra hiệu.
Bốn người lặng lẽ lùi về theo đường cũ.
Chưa đi được mấy bước, chân Ngõa đột nhiên hụt xuống, cả người rơi vào một cái rãnh.
Cái rãnh này rất kín đáo, lại chạy song song với đường chúng tôi đi nên lúc tới đây chúng tôi hoàn toàn không phát hiện ra.
Rãnh chỉ sâu hơn một mét, nhưng cú ngã vẫn khiến Ngõa rên lên một tiếng.
Tôi vội nhảy xuống đỡ cậu ta, thấy Ngõa đang ôm chân, vẻ mặt đau đớn.
Lúc này Lạc Ninh và Anh To Con cũng lần lượt xuống rãnh.
Dùng đèn pin soi, chúng tôi phát hiện chân Ngõa bị một khúc xương trắng sắc nhọn đâm xuyên.
Nó xuyên thủng cả giày lẫn chân, tạo thành một lỗ thủng, máu chảy ồ ạt.
Dưới đáy rãnh đầy những bộ xương trắng của đủ loại động vật, chồng chất lên nhau, nhiều đến mức không thể ước tính.
Nhìn tình hình này, nơi đây hẳn là hố chôn tuẫn táng bằng trâu, ngựa, dê, chó và những loài gia súc khác.
Để không đánh động lũ bọ rùa trong tòa tháp gỗ gần đó, Anh To Con bịt miệng Ngõa, không cho cậu ta kêu lên.
Tôi lập tức rút khúc xương đang cắm vào chân cậu ta ra.
Lạc Ninh lấy thuốc Vân Nam Bạch Dược trong túi sơ cứu mang theo rắc lên vết thương, sau đó lấy băng gạc trắng băng lại để cầm máu.
Hai tay tôi dính đầy máu trên chân Ngõa.
Tôi tiện tay quệt lung tung mấy cái lên quân phục.
Đột nhiên, trong đầu lóe lên một ý nghĩ.
Cái hố chôn tuẫn táng trâu ngựa này đào rất kỳ lạ.
Nó không vuông cũng chẳng tròn, mà kéo dài thành một cái rãnh.
Rãnh dài nối thẳng tới tòa tháp gỗ đặt thi thể.
Hình dạng này vừa khéo giống với một thế bố trí tên là “Nhiếp” được nhắc đến trong 《Bí thuật phong thủy》.
Nếu thật sự hoàn toàn giống nhau, vậy ở vị trí song song bên kia hẳn còn phải có một hố chôn tuẫn táng có quy mô tương đương.
Hai hố chôn tuẫn táng song song kẹp lấy ngôi mộ có cấu trúc tòa tháp gỗ ở giữa, tạo thành thế nhị long hấp châu.
Theo suy luận này, cái rãnh bên cạnh hẳn phải chứa một số vật dụng mà chủ nhân ngôi mộ từng sử dụng khi còn sống.
Chỉ không biết hai hố chôn tuẫn táng này do con người đào ra hay vốn hình thành tự nhiên.
Xem ra khả năng thứ hai lớn hơn một chút.
Tiếng nước chảy quanh đây rất lớn.
Dựa vào âm thanh của dòng nước xiết, có thể phán đoán nó nằm ở hướng tây bắc, tức phía sau Cửu Tầng Yêu Lâu.
Ở đó hẳn có một con sông ngầm, bởi rồng thì không thể rời khỏi nước.
Nếu đúng như tôi dự đoán, bản đồ thế giới dưới lòng đất này đã có sẵn trong đầu tôi.
Chỉ cần tìm được hố chôn tuẫn táng còn lại là có thể chứng thực suy luận của mình.
Anh To Con đẩy vai tôi một cái: “Lão Hồ, đứng ngẩn ra làm gì đấy?”
Vừa rồi tôi mải suy nghĩ nên xuất thần.
Bị anh ta đẩy một cái, tôi mới tỉnh lại.
Tôi hỏi Lạc Ninh: “Kỹ sư Lạc, cô có thể ước tính được vị trí hiện tại của chúng ta không?
Đại khái đang ở chỗ nào trên bản đồ?”
Lạc Ninh dùng la bàn đối chiếu với bản đồ để tính toán.
Cô trầm ngâm một lát rồi nói: “Chúng ta ở dưới lòng đất cứ đi thẳng về phía bắc hơn mười tiếng đồng hồ.
Dựa theo tốc độ của chúng ta, đáng lẽ đã đi qua Đại Băng Xuyên phía trên đầu rồi, chắc cũng sắp ra khỏi núi Côn Luân.”
Tôi nói lại suy nghĩ vừa rồi của mình.
Nếu bây giờ quay lại, chúng tôi chỉ có thể trở về khe núi đã bị lở tuyết vùi kín.
Nếu phán đoán của tôi không sai, men theo sông ngầm có lẽ sẽ tìm được đường ra ngoài.
Nhưng làm vậy đồng nghĩa với việc phải mạo hiểm đi xuyên qua bên dưới Cửu Tầng Yêu Lâu.
Đây là một phương án tìm đường sống trong cõi chết.
Bốn người bàn bạc một hồi.
Mặc dù cách này đầy rẫy nguy hiểm, nhưng đáng để mạo hiểm thử một lần.
Tuy nhiên, tôi quyết định trước tiên phải sang bên cạnh tìm hố chôn tuẫn táng còn lại để xác nhận suy luận của mình.
Trước khi hành động, tôi hỏi Ngõa rốt cuộc Cửu Tầng Yêu Lâu là gì.
Ngõa nói tiếng Hán rất khó khăn.
Cậu ta kể một hồi lâu, cuối cùng tôi mới hiểu được một phần.
Ở quê cậu ta, Huyết Vị, cũng có một di tích hoàn toàn giống Cửu Tầng Yêu Lâu này.
Tương truyền, loại “Cửu Tầng Yêu Lâu” này là hình thức mai táng trong lăng tẩm của các đời quân vương thuộc Ma Quốc thời cổ đại.
Khi Ma Quốc diệt vong, ngôi mộ ấy đã bị vị anh hùng vương Cách Tát Nhĩ phá hủy.
Trên cao nguyên vùng Tạng chỉ còn lại một đống khung gỗ mục nát, cùng những sử thi tự sự được truyền lại qua lời kể của các mục dân, đời đời ca tụng chiến công hiển hách vô song của vua Cách Tát Nhĩ, tựa như mặt trời.
Mỗi khi những người mục dân Tạng đi ngang qua các di tích này, họ đều phải đỉnh lễ mô bái và ngâm xướng sử thi.
Điều đó không phải vì sợ hãi lăng mộ của các quân vương Ma Quốc, mà là để bày tỏ lòng tôn kính đối với vua Cách Tát Nhĩ.
Ngõa còn nói thêm một số chuyện liên quan đến tôn giáo, nhưng tôi nghe chẳng hiểu gì.
Còn những con côn trùng giống ma trơi kia có phải linh hồn người đã khuất đang yên nghỉ trong mộ hay không thì cũng chẳng ai biết được.
Tôi để Lạc Ninh và hai người còn lại ở nguyên chỗ cũ, còn mình bò sát về phía trước.
Cách hố chôn tuẫn táng trâu ngựa hơn một trăm mét, quả nhiên còn có một hố chôn tuẫn táng khác.
Bên trong toàn là những đôi ủng da cổ, mảnh gỗ khắc chữ Tạng cổ, thẻ gỗ khắc chữ Mông Cổ cổ, mảnh gỗ sơn màu cùng đồ trang sức bằng vàng, đĩa gỗ, cánh gỗ, chim thú bằng gỗ, đồ đồng, lương thực và rất nhiều lụa cùng các vật tùy táng khác.
Xem ra suy luận của tôi không sai.
Con sông ngầm phía sau Cửu Tầng Yêu Lâu chắc chắn nối với bên ngoài.
Tôi lập tức lẻn trở lại hố chôn tuẫn táng động vật, gọi ba người kia chuẩn bị hành động.
Tôi đi đầu mở đường.
Anh To Con cầm súng đi ngay phía sau, tiếp theo là Ngõa.
Vết thương do mảnh xương đâm vào chân cậu ta không nhẹ, nên Lạc Ninh đi phía sau đỡ cậu ta.
Cửu Tầng Yêu Lâu có quy mô rất lớn.
Không gian ngầm vốn đã rộng mênh mông, nhưng tòa tháp và những mảng mica lớn ở hai bên gần như chặn kín đường đi về phía bắc.
Hai bên chỉ còn những khoảng rất hẹp, miễn cưỡng đủ cho người đi qua.
Chúng tôi thấp thỏm đi qua bên dưới tòa tháp gỗ.
Nhìn thấy những con bọ rùa mang hơi lửa đang lập lòe trong tháp, tim chúng tôi như muốn nhảy khỏi cổ họng.
Đoạn đường hai trăm mét dưới chân tháp, mỗi bước đi đều dài đằng đẵng.
Vất vả lắm mới lách qua được Cửu Tầng Yêu Lâu.
Đi về phía trước chưa đầy hai trăm bước, bỗng nhiên chân tôi mềm nhũn, giống như vừa giẫm lên một con vật khổng lồ nào đó.
Tôi dùng đèn pin soi xuống, phát hiện dưới chân mình là một loài bò sát khổng lồ chưa từng thấy.
Nó đang thè chiếc lưỡi dài.
Màu da gần như hòa lẫn với màu đất dưới chân.
Hình dáng hơi giống kỳ đà khổng lồ, lại có vẻ giống cá sấu, nhưng lớp da không thô ráp như cá sấu.
Phần mõm phía trước cũng không nhọn như thằn lằn mà khá tròn.
Lưỡi giống lưỡi rắn, vừa đỏ vừa dài, phía trước chẻ đôi.
Toàn thân đen sì, mọc đầy những đốm tròn lớn màu trắng.
Chỉ nhìn hình dáng bên ngoài mà nói, về cơ bản có thể coi nó là một con ếch khổng lồ có thêm chiếc đuôi dài.
Cả đời này tôi chẳng sợ trời chẳng sợ đất, nhưng lại đặc biệt sợ mấy thứ ghê tởm như vậy.
Tôi sợ đến mức lập tức thu người trốn ra sau Anh To Con.
Anh To Con cũng nhìn thấy con vật kỳ lạ kia, phản ứng có lẽ chẳng khác tôi là bao, cũng giật mình một cái.
Có lẽ đối với quân nhân, thứ duy nhất có thể dựa vào trong lúc nguy cấp chính là khẩu súng trường.
Theo bản năng, anh ta giơ súng lên bắn.
Pằng pằng pằng!
Một loạt đạn ngắn trút xuống.
Con bò sát kia quằn quại mấy cái rồi chết tại chỗ.
Lúc này Lạc Ninh đi sau cùng cũng tới.
Cô nhìn xác con vật dưới đất, thở phào rồi nói với chúng tôi: “Đây là kỳ giông sống dưới lòng đất, ăn côn trùng và phù du, không gây hại cho người.”
Tôi chẳng tiếc gì chuyện bắn chết một con vật.
Điều tôi lo là Anh To Con hấp tấp nổ súng như vậy có đánh thức lũ côn trùng trong tháp hay không.
Mẹ kiếp, con người một khi xui xẻo thì uống ngụm nước lạnh cũng mắc nghẹn.
Những con bọ rùa trong “Cửu Tầng Yêu Lâu” rõ ràng đã bị tiếng súng đánh thức.
Vô số quả cầu lửa màu xanh sáng lên, chẳng khác nào hàng vạn ngọn đèn.
Toàn bộ không gian dưới lòng đất lập tức bị ánh lửa nhuộm thành màu xanh.
Tòa tháp gỗ cũng bùng cháy.
Ngọn lửa càng lúc càng lớn, hàng trăm quả cầu lửa đồng loạt lao về phía chúng tôi.
Ngọn lửa lớn đến vậy mà chúng tôi lại chẳng cảm thấy chút hơi nóng nào, trái lại còn thấy khí lạnh bức người, răng va lập cập.
Thấy tình hình không ổn, Anh To Con móc hai quả lựu đạn cài trên thắt lưng quân dụng ra, định kéo chốt ném qua để炸 những quả cầu lửa kia.
Tôi vội chộp lấy tay anh ta: “Ném một quả thôi, để lại cho chúng ta một quả lựu đạn danh dự.
Tôi không muốn bị ma trơi thiêu chết đâu.”